Fashion & Beauty
Thời trang hay “sự chiếm đoạn” văn hóa

POSTED ON: August 8th, 2018 1:16 PM by


Vào ngày 22 tháng 9 tới đây, Bảo tàng Mỹ thuật San Francisco sẽ chính thức mở cửa cuộc triển lãm Contemporary Muslim Fashions. Triển lãm trưng bày các trang phục mang tính dân tộc và tôn giáo, từ turban đến burquas, từ Nike hijab đến bộ sưu tập caftan đặc biệt của Oscar de la Renta. CEO, Giám đốc của Bảo tàng San Francisco, Max Hollein chia sẻ: “Có người nghĩa rằng phụ nữ Hồi giáo không hề có khái niệm về thời trang. Nhưng sự thật thì ngược lại, với một bối cảnh thời trang khác thường, hiện đại và nhạy cảm, đặc biệt là ở các nước có phần đông dân số theo đạo Hồi”. Hollein có thể đúng, nhưng phải nhìn nhận rằng thời trang ở các nước Hồi giáo vẫn phải chịu những ngộ nhận và phân biệt đối xử từ nhiều quốc gia phương Tây. Ở Pháp và Bỉ, những chiếc mạng che mặt bị cấm. Rất nhiều quốc gia khác cũng có những lệnh cấm vận tương tự.

Quay lại với cuộc triển lãm, dụng ý của nó khiến ta băn khoăn: đây có phải một nỗ lực đáng tôn trọng với mục đích đa dạng hóa thời trang, hay lại là một ví dụ khác về việc phương Tây áp đặt một cách sai lầm câu chuyện của mình lên “phần còn lại của thế giới”?

Trong tác phẩm Orientalism, Edward Saïd miêu tả nỗi ám ảnh của châu Âu và Bắc Mỹ với phương Đông như một phần cơ bản của chủ nghĩa đế quốc. “Từ những nhìn nhận ban đầu của phương Tây, một thứ mà phương Đông không thể làm được là đại diện cho chính mình. Những dẫn chứng về phương Đông chỉ đáng tin cậy khi nó đã đi qua, và đã được “thử lửa” từ những tác phẩm của những nhà nghiên cứu về phương Đông…Chúng tôi sẽ cho bạn lịch sử của mình. Chúng tôi sẽ viết nó cho bạn, và chúng tôi sẽ sắp xếp lại quá khứ.”

Lịch sử cho thấy ngành công nghiệp thời trang phương Tây bắt nguồn từ nền văn hóa châu Âu, với tinh thần quý tộc và quan điểm thống trị, dị biệt của mình về tiến bộ xã hội. Kéo theo sau là những tiến bộ như tính hiện đại, sự giải phóng tình dục theo quan điểm của người Kito giáo da trắng. Những dẫn chứng từ các lục địa khác thường mang tính ngoại lai và đậm chất tôn giáo, hơn là một sự nhìn nhận đa văn hóa. “Thời trang luôn đưa ra lời bình phẩm cho ‘phần còn lại của thế giới’; hay nói cách khác, chúng bị mơ mộng hóa như thế nào, bởi hầu hết nhà thiết kế chưa từng đặt chân đến vùng đất được tham chiếu”. Alice Litscher, Giáo sư tại Paris’ Institut Français de la Mode cho hay. “Thời trang là một công cụ chính trị thiết lập chuẩn mực, đề xuất sự đánh giá, khai phá và nâng cấp, hòng biến phương Đông thành một thứ quý tộc – sự tiếp diễn và biện minh của tâm lý thuộc địa kéo dài”.

Vào đầu thế kỉ 17, hình ảnh các quốc gia xa xôi được coi như xu hướng trong thời trang. Sự ảnh hưởng Trung Hoa trong cung điện hoàng gia châu Âu phổ cập một khái niệm mơ hồ về châu Á. Tương tự với Turquerie (ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ) hay Indiennerie (ảnh hưởng của Ấn Độ), với những cách điệu lấy cảm hứng từ Ấn Độ và đế chế Ottoman. Sự chiếm hữu, những trích dẫn tương đối và truyền thống áp đặt từ lâu đời nhìn nhận qua lịch sử thời trang nói lên việc phương Tây mong muốn được thể hiện mình hơn là những gì mà chúng chiếm đoạt từ những nền văn hóa khác. Chiếc áo kimono của Jeanne Lanvin; sự đam mê của Elsa Schiaparelli với nền văn hóa phương Đông với “The exotic body”, những chiếc turban và quần harlem của Paul Poiret…Chúng đặt ra những chuẩn mực mới về thời trang. “Quần harlem là một cách tinh tế để đưa những chiếc quần vào tủ quần áo của phụ nữ, kimonos là câu đáp trả cho những chiếc corset”. “Nhưng chúng đều không đưa ra nguồn trích dẫn cụ thể” – Alice Litscher nói.

Tình trạng này tiếp diễn trong suốt thế kỉ 20. Những chuyến đi đến Morocco đã gợi ý cho Yves Saint Laurent thiết kế Sahariennes, bộ trang phục túi hộp màu cát liên tưởng đến cuộc hành trình trên sa mạc Sahara. John Galliano phục dựng lối trang điểm của Geisha, trong khi Jean Paul Gaultier trình làng bộ sưu tập mang cảm hứng châu Phi vào năm 2005 – được tờ Vogue miêu tả là “gợi nhớ đến những vụ điệu rumba hơn là đất nước Rwanda”. Nguồn cảm hứng từ các nền văn hóa như một dòng chảy không bao giờ ngừng, từ chiếc mũ của thổ dân châu Mỹ trong các show diễn của Victoria Secret, đến việc dùng “blackface” trên các trang bìa tạp chí thời trang.

Nhưng chúng ta, chậm mà chắc, đang nhận thức rõ hơn về sự chiếm đoạt văn hóa (cultural appropriation), và sẵn sàng thể hiện sự phản đối. Nhà lý luận Walter Mignolo đã từng bày tỏ quan điểm mạnh mẽ về thứ mà ông gọi là “Sự phi thực dân hóa thẩm mỹ” và yêu cầu xem xét rõ ràng ranh giới giữa nghệ thuật cao cấp và nghệ thuật rẻ tiền, giữa nghệ thuật mang tính học thuật và những thứ tương tự chỉ để trang trí. Theo Mélody Thomas, nhà báo Paris chuyên viết về thời trang và văn hóa, và là đồng sáng lập What’s Good Newsletter tin rằng điều này có thể áp dụng với thời trang. “Ví dụ điển hình về sự thống trị của phương Tây trong ngành công nghiệp thời trang là những thứ trang phục mang tính  “nước ngoài” thường được gọi là “phục trang”, hay nghe ổn hơn là “quấn áo”. Chúng chỉ được xem là “thời trang” khi đã bị chiếm đoạt và công nhận bởi cái nhìn của người da trắng”.

Mille – tạp chí thời trang online mang hơi hướng avant- garde, với độc giả hướng đến là giới trẻ Ả Rập, là một dự án về phi thực dân hóa. Mục tiêu của dự án này đem đến một cái nhìn của Ả Rập về thời trang, làm đẹp, và văn hóa underground. Sofia Guellaty, người Tunisia, từng là biên tập viên của Style.com ở Arabia, đồng giám đốc điều hành dự án, nhận định: “Người Ả rập nhận ra họ đang bị tấn công ồ ạt và vụ lợi bởi những thương hiệu xa xỉ phương Tây – những người còn không thèm tốn thời giờ để hiểu những nhu cầu khác biệt của họ, trong khi cùng lúc áp đặt những quy chuẩn, những quan điểm về cái đẹp của mình”. Cô cũng cho rằng những khái niệm về nữ quyền, sự giải phóng, sự thể hiện bản thân hay sự nổi loạn cần phải xem xét trên góc nhìn địa phương, với những kỳ vọng về văn hóa và tôn giáo, “chứ không phải là sao chép ý tưởng của người da trắng”.

Đối với nhà thiết kế người Morroco, Amine Bendriouich, với bộ sưu tập mang cái tên Touaregs du Futu, là sự kết hợp giữa chủ nghĩa futuristic Bắc Phi, với trang phục truyền thống và chất liệu được sản xuất trên công nghệ cao. “Đây là một viễn ảnh mơ ước về những gì Bắc Phi có thể đã trải qua từ nhiều thế kỷ thuộc địa. Đó là một cách thể hiện sự thống nhất, đồng thời tôn vinh sự khác biệt của “Phần còn lại của thế giới”. Trên trang web của mình, thương hiệu này cũng tuyên bố: “Cám ơn định kiến của bạn. (Nhưng) Chúng tôi đang xây dựng phong cách của riêng mình.”

Một trường hợp khác, thương hiệu Pháp Aswad (nghĩa là “đen” trong tiếng Ả rập), được sáng lập bởi nhà thiết kế mang hai dòng máu Pháp và Morocco Sonia Ahmimou, với sự kết hợp giữa nghệ thuật, kiến ​​trúc Hồi giáo với chủ nghĩa thô mộc (brutalisim), như một cách để đặt câu hỏi về tính chức năng của các thiết kế, sự cao – thấp và tinh thần quý tộc.

Theo Alice Litscher thì tất cả những điều này cần được áp dụng trong giảng dạy về thời trang. “Đó là vấn đề của việc xem xét lại nguồn cơn của quyền lực và những bài diễn thuyết được sản xuất và truyền tải ra sao; đẩy mạnh sự phát triển của ngành công nghiệp địa phương như thế nào; và quan trọng nhất, là nghiêm khắc tự nhìn lại bản thân mình: Bạn là ai? Bạn có những đặc quyền gì? – để có thể đưa ra một quy trình thiết kế mang sự tôn trọng”.

Trong cuốn “On Beauty”, Zadie Smiths đã viết: “Nghệ thuật là huyền thoại phương Tây, thứ mà chúng ta tự tạo ra và tự lấy làm an ủi chính mình”. Hãy hy vọng rằng những kế hoạch, dự án như trên sẽ để những huyền thoại mới, phi-phương-Tây được truyền cảm hứng cho thế hệ sau này.

Thảo Nyên (Lược dịch từ “How can fashion be decolonized?” trên i-D magazine)